Nước đứng

Nguồn: Ngày ngày viết chữ

|| Nước không chưn sao kêu nước đứng,
Cá không giò sao gọi cá leo?
Ghe không tay sao kêu ghe vạch,
Cá không thờ sao gọi cá linh? – Ca dao ||
★ Phần 1: Nước đứng ★

Động từ “đứng” trong tiếng Việt có nhiều nghĩa. Hễ từ nào càng cơ bản, càng được sử dụng nhiều trong tiếng nói hằng ngày thì càng nhiều nghĩa. Như Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên giảng chữ “đứng” này có bảy nghĩa. Trong đó có một nghĩa là “ở vào trạng thái ngừng chuyển động, phát triển”.

“Nước đứng”, hiểu đơn giản là nước ngừng chuyển động. Đây là một kiểu ẩn dụ từ vựng của tiếng Việt, gọi tên sự vật hiện tượng dựa trên điểm tương đồng về tính chất. Trong quyển “Nỗi oan thì, là, mà”, giáo sư Nguyễn Đức Dân giảng: “Khi đang đi mà đứng lại, ấy là chúng ta không chuyển động nữa. Từ đứng có tính chất bất động. Vậy nên hiện tượng nào mà trong nhận thức của người Việt coi là bất động hoặc gần như bất động sẽ được coi là đứng.”

Cho nên người Việt gọi nước giữ một mực không chảy, không dâng không rút là “nước đứng”. Mặt trời lên ngay đỉnh đầu, bóng của mình thu lại ngay dưới chân mình, không ngã ra hai bên, không từ từ dài ra hai ngắn lại gọi là “đứng bóng”. “Đứng ngọ” cũng dùng với nghĩa tương tự. “Đại Nam Quấc âm Tự vị” của Huình Tịnh Paulus Của còn ghi nhận các trường hợp:
– đứng sức: hết sức, không còn sức nữa;
– trâu đứng: trâu già quá, hết sức rồi, không còn dùng đặng nữa;
– trăng đứng đầu: chừng nửa đêm (nói về khi có trăng);
– đứng tuổi: đến tuổi, đã tới tuổi (tức là đã không còn trẻ nữa nhưng chưa già – NNVC);

Từ điển Hoàng Phê và Việt Nam Tự điển của Hội Khai trí Tiến Đức còn ghi nhận từ “đứng số” nghĩa là “nói về số phận đã đến lúc đứng vững, không long đong nữa”.
———–
#chuyệnchữchuyệnnghĩa
Photo by Jean Wimmerlin on Unsplash

Leave a comment

Design a site like this with WordPress.com
Get started