“Hoàng tộc đóng vai hoàng tộc 😲”

Nguồn: Phượng Khấu
(Tên bài post lấy từ comment của một bạn trong post bên Phượng Khấu)

[Cháu gái của Mệ Bông sẽ chính thức đảm nhiệm vai Tuệ Khiết Hiền Phi Ngô Thị Chính]

Các bạn thân mến,

Với thực trạng khó khăn hiện tại của nền phim cổ trang Việt Nam, series Phượng Khấu rất hân hạnh khi nhận được sự tham gia và ủng hộ vô cùng lớn đến từ các nghệ sĩ hàng đầu như NSƯT Thành Lộc, NS Hồng Đào, NSND Hồng Vân, NS Kiều Trinh,… Đây chính là động lực rất lớn để đoàn làm phim Phượng Khấu có thể bước tiếp trên con đường này.

Và ngày hôm nay, Phượng Khấu rất vui mừng khi đã nhận được sự đồng ý tham gia từ một nghệ sĩ gạo cội hàng đầu của Việt Nam thập niên 80, người được mệnh danh là “Đệ nhất đào thương” của sân khấu thoại kịch Sài Gòn: Nghệ sĩ Ưu tú Minh Trang.

NSUT Minh Trang sẽ chính thức đảm nhiệm vai Tuệ Khiết Hiền Phi Ngô Thị Chính, Nguyễn triều Đệ nhất Sủng phi, người phụ nữ được Hoàng đế Minh Mạng sủng ái hơn bất kì ai khác trong nội cung của ông.

Và một điều đặc biệt mà ít ai biết, cô Minh Trang chính là cháu ngoại của mệ Bông – Nguyễn Thị Cẩm Hà, tức ái nữ của Mỹ Lương Trưởng Công chúa. Mỹ Lương Công chúa là con gái của Hoàng đế Dục Đức và là chị gái của Hoàng đế Thành Thái.

_________________

Nghệ sĩ Minh Trang cùng với chú Thành Lộc, cô Hồng Đào, cô Hồng Vân đều là những gương mặt đình đám của sân khấu kịch 5B, đặc biệt với nhân vật Phồn Y trong vở Lôi Vũ, đã gây ấn tượng mạnh mẽ đến giới mộ điệu đương thời.

Thay mặt đoàn làm phim Phượng Khấu, e-kíp xin đặc biệt gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến nghệ sĩ Minh Trang vì đã nhận lời trở lại màn ảnh với vai diễn Ngô Hiền phi. Đây không chỉ là một niềm vinh dự của riêng Phượng Khấu, mà còn là niềm vinh dự chung cho điện ảnh nước nhà.

Hình ảnh tư liệu gia đình, được đăng tải dưới sự cho phép của cô Minh Trang và lần đầu tiên được công bố với công chúng. Vui lòng không repost lại dưới bất kì hình thức nào khi chưa có sự cho phép từ Phượng Khấu.

Điểm qua thông tin mấy tấm ảnh: (muốn xem ảnh mời tới post gốc)

  • Cô Minh Trang trong chiếc áo ngũ thân sa kép màu hồng, thêu hoa văn đoàn phượng. Áo do nghệ nhân Trịnh Bách phục chế từ hiện vật gốc. Hiện đang được trưng bày trong Bảo tàng.
  • Cô Minh Trang và khăn vành được đích thân Mệ Bông thực hiện bằng phương pháp cung đình. Đặc biệt, khăn vành được mệ Bông sử dụng chính là kỷ vật của Bà Chúa Nhất – Mỹ Lương trưởng công chúa

Mệ Bông: Chứng nhân cuối cùng của cung vàng điện ngọc triều Nguyễn

Nguồn: Trí Thức VN

Mệ Bông chính là chứng nhân cuối cùng của cung vàng điện ngọc triều Nguyễn nhưng tiếc thay bà đã qua đời ngày 19/9/2001. Đối với Mệ Bông thì thời gian như đã dừng lại khi nhà Nguyễn cáo chung gắn với sự kiện vua Bảo Đại thoái vị năm 1945. Vậy Mệ Bông là ai? Xin được giới thiệu với độc giả bài viết “Người vấn khăn vành dây cho hoàng hậu Nam Phương” của tác giả Trịnh Bách.

*******

Vào cuối Xuân 1931, nhà báo Mỹ W.Robert Moore đã mục kích tại kinh đô Huế lễ đón tiếp Quốc vương và Vương hậu Thái Lan sang thăm Việt Nam. Bà Hoàng Thái Hậu phải đảm nhiệm việc tiếp khách, vì vua Bảo Đại còn đang du học tại Pháp. Những nghi lễ và sự hoành tráng của các buổi tiếp tân, yến tiệc đã khiến ông Moore hồi tưởng lại những dịp lễ tương tự ở đế đô Bắc Kinh trước cách mạng Tân Hợi 1911.

Nhưng kỷ niệm thú vị nhất của nhà báo Mỹ này khi ở Huế là việc ông được một vị Trưởng Công chúa triều Nguyễn tiếp kiến tại phủ riêng của bà. Ông Moore kể lại rằng: “Vị ái nữ xinh đẹp của bà Chúa đã rộng lượng cho chúng tôi được thưởng thức tài nghệ đàn tranh của cô. Sau đó cô cùng vị giáo sư già khiếm thị và nhạc sĩ đàn dây khác trong phủ hợp tấu, trong khi các ca công trẻ hát những bài ca Huế…”. Nàng công nữ xinh đẹp ấy có cái tên rất “Huế” là Mệ Bông. Theo tục lệ cổ của triều Nguyễn, tất cả các thành viên của Hoàng tộc đều được gọi là Mệ, và kèm theo một cái tên nghe thật bình dân. Tiếng Mệ dần dà đã trở thành một cái âm thanh biểu tượng rất dễ thương của Huế.

Thân mẫu Mệ Bông là Công Tằng Tôn Nữ Tôn Tụy, trưởng nữ của Cung Tôn Huệ Hoàng đế Dục Đức (1883). Bà trở thành Trưởng công chúa khi em trai bà là Hoàng đế Thành Thái lên ngôi năm 1889. Bà được sắc phong tước hiệu Mỹ Lương công chúa năm 1897, thường được gọi là Bà Chúa Nhất. Mỹ Lương công chúa có công rất lớn đối với nghệ thuật tuồng cung đình của Việt Nam vào đầu thế kỷ 20. Đội ca vũ tuồng cung đình do bà lập ra và huấn luyện trong phủ của bà đã trình diễn trong hoàng cung từ cuối triều Thành Thái, qua các triều Duy Tân, Khải Định và nhất là Bảo Đại. Bà Chúa cũng là một trong những sáng lập viên và Mạnh Thường quân chính của Hội Lạc Thiện, lập ra để cứu tế, giúp đỡ đồng bào khốn khổ, và các nạn nhân bị thiên tai quanh đế đô. Thân phụ của mệ Bông là Thượng Thứ Nguyễn Kế, con trai của Diên Lộc Quận công, một vị trưởng phụ chính nổi tiếng cuối triều nhà Nguyễn.

Mệ Bông bây giờ đã là một bà lão ở tuổi cửu tuần, nhưng Mệ vẫn chỉ trả lời những câu hỏi liên quan đến tuổi tác bằng những nụ cười thật hiền. Khi tôi ngỏ lời muốn được gặp và phỏng vấn Mệ Bông vào đầu tháng 9 – 2001, thân quyến của Mệ tỏ ra lo ngại cho tôi. Sau khi bị tai biến mạch máu não, Mệ đã nằm liệt giường gần 2 năm, nói năng rất khó và Mệ không còn nhớ gì… Thực ra, Mệ Bông còn nhớ mọi chuyện rất rõ. “Lúc nào trong phủ Đức Bà cũng nuôi năm chục người. Họ vừa là người giúp việc, vừa là tài tử, đào hát của đoàn tuồng. Người ca giỏi nhất trong đoàn là Mụ Liễu. Ngoài ra con Quý này, Ninh này, Thanh này, Yến này… đông lắm! Đức Bà cho họ huấn luyện cả ngày cả đêm…” Mệ cũng kể đến một điệu múa mà các vũ công trên đầu vấn khăn, trong mặc áo bào xiêm, ngoài khoác áo lá tua. Đây là điệu múa Nữ Tướng mà cậu của Mệ là vua Thanh Thái rất ưa thích.

Mệ Bông: Chứng nhân cuối cùng của cung vàng điện ngọc triều Nguyễn

Tuy Mệ Bông rất thành thạo về đàn tranh và ca Huế, Mệ chỉ học và tự tiêu khiển thôi. Phần lớn thì giờ của Mệ được dành cho các công việc trong cung. Trong khi bà Tiên cung Thái hoàng Thái hậu, bà nội ruột của Hoàng đế Bảo Đại phải chăm sóc việc nghi lễ, tiếp khách thì bà Chính cung Thái hoàng Thái hậu, tức bà Thánh Cung thường phải nằm nghỉ trong cung Trường Sanh do bị bệnh khớp nặng. Từ thuở nhỏ, Mệ Bông đã phải vào đọc sách, truyện giải sầu cho Bà Thánh Cung. Vì Mệ rất thân với Hoàng thái tử Thiền (tức Bảo Đại Đế) nên bà Thánh Cung coi Mệ như cháu bà.

Các bà trong nội cung cũng đều thích được Mệ Bông vấn khăn vành dây cho họ. mệ Bông đã một thời nổi tiếng về tài vấn khăn này. Khăn làm bằng nhiễu mỏng, dài từ 10 đến 20 thước tây. Khăn rộng khoảng 45 phân tây, được xếp lại còn chiều rộng chừng 5 phân tây. Người có tước phẩm càng cao thì khăn càng dài. Trước hết một đoạn khăn vấn được bao vào tóc để làm nền, rồi khăn vành dây được cuộn tiếp theo, phủ ra ngoài. Khăn vành dây có vị trí rất quan trọng trong nghi lễ của triều đình Huế. Bà Đệ Tam Điểm Tần của vua Khải Định đã phải ngủ ngồi nhiều ngày trong các dịp đại kỵ để khỏi phải vấn khăn lại. Mệ Bông rất hãnh diện về tài vấn khăn nhanh của Mệ, chỉ mất khoảng hơn nửa giờ. “Hoàng hậu Nam Phương thường mặc âu phục, nhưng mỗi lần cần đến triều phục thì bà lại cho vời tôi vào cung để vấn khăn cho bà”.

Các Hoàng đế cũng cần đến Mệ Bông vì tài bếp núc của Mệ. Khi cựu hoàng Thành Thái về thăm Huế năm 1953 sau suốt 3 thập kỷ bị nhà cầm quyền Pháp an trí ở đảo Reunion ở bên Châu Phi, ông đã quyết định “ở tại phủ chị Chúa để con Bông nó nấu cho ăn”. Trái với sự tưởng tượng của mọi người, các Hoàng đế ở Huế không chuộng những món yến tiệc cầu kỳ cho lắm. Các đại yến 60 món, trung yến 49 món, tiểu yến 30 món với ảnh hưởng của Trung Quốc, thường được dùng để đãi quốc khách hay các quan. Còn mỗi món ăn hàng ngày để Hoàng đế ngự thiện có thể nói là đạm bạc. Trong cung có 2 ông bếp chính là ông Lợi người Bắc, và ông Nghĩa người Quảng Nam để nấu các cỗ Âu. Nhưng mỗi khi trong cung cần đến tiệc Việt Nam thì Mệ Bông lại phải vào phụ Mã Thông, Mã Trọn, hai người bếp của các món Huế trong cung.

Đối với Mệ Bông thì thời gian đã dừng lại khi nhà Nguyễn cáo chung với việc Bảo Định thoái vị năm 1945. Sự mất mát lớn nhất trong đời Mệ Bông xảy ra vào năm 1948, khi chiến tranh cướp đi người chồng trẻ yêu quý của Mệ Bông, Mệ không bao giờ tái giá nữa. Niềm an ủi của mệ bây giờ là Cung An Định ở An Cựu, nơi Hoàng Thái Hậu Từ Cung và một số mệnh phụ còn giữ lại được phần nào nếp sống xưa. Mệ vẫn hay vào cung sống với Bà, và giúp Bà với hai công việc ưa thích của Mệ là vấn khăn vành dây và bếp núc.

Năm 1954 lại biến đổi đời Mệ Bông thêm lần nữa. Người con gái độc nhất của Mệ Bông đã tuổi 18 một hôm biệt tích. Tìm con đến tận Sài Gòn cũng không ra. Mệ gần như điên loạn. Mãi hai năm sau Mệ mới nhận được thơ của cô gửi từ Hà Nội cho biết cô đã tập kết ra Bắc. Rồi sự bình yên của Cung An Định cũng không còn khi ông Ngô Đình Diệm ra lệnh quốc hữu hóa cung này. Sau đó ông Diệm lại triệu Mệ Bông về Sài Gòn để nhờ Mệ cố vấn cho các bữa yến tiệc trong Dinh Độc Lập. Từ đó Mệ không bao giờ trở về sống ở Huế nữa.

1975, người con gái tập kết năm xưa lặn lội vào Sài Gòn tìm mẹ. Mệ Bông như được hồi sinh. Mệ xuống tóc để tạ ơn Trời Phật và từ đó Mệ chỉ vui với con cháu, ít khi ra ngoài. Lần cuối cùng Mệ Bông trổ tài vấn khăn vành dây là vào dịp đám cưới người cháu gái năm 1985 (chính là cô Minh Trang thì phải ❤). Các hình bóng một thời thân thương cũng dần dần ra đi. Hoàng hậu Nam Phương mất bên Pháp năm 1963 (Xem bài: Người phụ nữ khiến vua Bảo Đại phải bãi bỏ cả hậu cung). Bà Chúa Nhất mất năm 1964. Bà Ân phi, vợ chính của vua Khải Định mất năm 1978, bà Mai Thị Vàng, vợ vua Duy Tân mất năm 1980. Rồi bà Từ Cung cũng mất năm 1980. Hoàng đế Bảo Đại, người anh em họ của Mệ cũng mất tại Pháp năm 1997.

Khi tôi đến thăm và phỏng vấn Mệ Bông vào đầu tháng 9, như có một phép lạ, Mệ đã ngồi dậy được để mặc cái áo mệnh phụ tứ thân, giống như áo Bà Chúa Nhất mặc năm xưa, và chụp ảnh lưu lại cho con cháu. Mệ cười thật tươi và đùa rằng nay Mệ được sắc phong. Và khi bài này được đăng lên khuôn in, tôi nhận được tin Mệ Bông, tức Tôn Nữ Nguyễn Thị Cẩm Hà, nhân chứng cuối cùng của cung vàng điện ngọc Nguyễn Triều đã qua đời ngày 19 tháng 9 năm 2001.

Theo Fanpage Cố Đô

Chuyện hậu cung của vua

Nguồn: Sử Hộ Vương

Theo sử gia Tạ Chí Đại Trường, để nói về chốn hậu cung, nhà Tiền Lê có các điện Phong Lưu, Phong Lưu, Tử Hoa, Bồng Lai, Cực Lạc, và chỗ nằm ngủ được gọi là Trường Xuân.

Sang thời Thái Tổ Lý Công Uẩn, nhà vua cho xây hẳn một cửa Phi Long thông với cung Nghênh Xuân. Đơn giản là khi con rồng “nổi hứng” nó sẽ phi thẳng qua đó để “đón xuân’. Khi xong việc thì ngủ khò trong vòng tay người đẹp ở điện Long Thụy (nơi rồng mỏi mệt thiếp đi). Công trình này được xây cùng với cung Thuý Hoa.

Lý Nhân Tông thì tạo nên cung Hợp Hoan. Nói chung, chúng ta chỉ cần nghe cũng hiểu… công dụng của mấy cái cung này là gì, Nghê không tiện nói ra ở đây (vì sẽ bị nướng).

Ngoài việc tranh sủng đơn thuần như mọi triều đại khác, hậu cung nhà Lý vẫn tồn tại tính chất khốc liệt vì còn ẩn hiện bóng hình quyền lực truyền thống của phụ nữ Việt thời cổ, mà ưu thế thuộc về dòng họ người mẹ. Cái chết của Thượng Dương trong tay Ỷ Lan phần nào là một ví dụ đau lòng cho điều đó.

Fan Art: GrumpyPenguin

Nkđs11: Việc hôm nay chớ để ngày mai – tr20 ~ 29

Đọc ngày 07/04/2020

Hôm qua đọc thêm được 3 phần – có lẽ nên gọi là 3 mẹo vì nó ngắn lắm. Vẫn có thể chia ra thành luyện tập tinh thần và luyện tập thao tác, và cũng có thể phân các mẹo lại thành các mảng khác nhau.

Chi tiết thì mình ghi bên post kia rồi nên không nêu lại. Còn về tâm đắc thì gần như không có. Nếu cố nặn ra thì là đoạn tạo nhóm phụ huynh đưa con tới trường – tiết kiệm thời gian cho cả mình và người khác – dễ thỏa thuận.

Phân biệt con rồng Lý-Trần với rồng Trung Quốc

Nguồn: Việt Sử Kiêu Hùng

Trong lúc đi thực địa cho series Motion-Comics làm về Lam Sơn và vũ trụ dã sử thời Trần (sẽ thông báo tên chính thức sớm), nhóm mình rất ngạc nhiên khi rất nhiều nơi phục dựng không thể hiện được những đặc điểm đặc trưng và độc đáo nhất trong lịch sử nước nhà, đó chính là biểu tượng con rồng thời Lý và thời Trần.

Chi tiết sâu thì có thể khó nhớ, nhưng có rất nhiều đặc điểm đơn giản NHÌN PHÁT BIẾT NGAY. Trong clip này, Phạm Vĩnh Lộc sẽ chia sẻ với các bạn những điểm cực kỳ đơn giản để phân biệt.

Con rồng trên Logo của Việt Sử Kiêu Hùng, và con rồng trên bìa cuốn Artbok Đa Bang của chúng mình cũng chính là hình ảnh của rồng Lý-Trần Đại Việt.

Hy vọng sau này khi chúng ta làm về lịch sử Việt Nam thì con rồng Lý-Trần sẽ trở lại đúng với vị trí đỉnh cao của nó.

Tổng hợp page/group lịch sử – văn hóa cổ phong Việt Nam

Nguồn: Tầm chương trích cú

Xin chào các bạn!

Nhận thấy ngày càng nhiều có các bạn trẻ yêu mến và tìm tòi lịch sử – văn hóa cổ phong của nước nhà như mình, Tầm Chương Trích Cú thấy cần thiết tổng hợp lại các nguồn và xin phép chia sẻ, gởi tặng quý bạn đọc danh sách tổng hợp những page/group trong cộng đồng người yêu thích lịch sử – văn hóa cổ phong Việt Nam.

Đại Việt Cổ Phong – 大越古風 – VietnamAncient
Group: https://www.facebook.com/groups/Vietnam.ancient/
Page: https://www.facebook.com/daivietcophong/

Thiên Nam Lịch Đại Hậu Phi – 天南歷代后妃
Page: https://www.facebook.com/vietnam.empresses/
Group: https://www.facebook.com/groups/1653570004667488/

Vietnam Centre
https://www.facebook.com/VietnamCentre/

Sử Văn Các 戰 史
Page: https://www.facebook.com/suvancac/
Group: https://www.facebook.com/groups/309375116479648/

Lạc ngắm nhân gian
https://www.facebook.com/lacngamnhangian/

Ấm Chè
https://www.facebook.com/warm21/

Thủ Phất Thanh Đài – Under The Green Moss
https://www.facebook.com/underthegreenmoss/

Nam Văn Hội Quán – 南文會館
https://www.facebook.com/namvanhoiquan/

Sử quán cổ phong
Group: https://www.facebook.com/groups/1330957386956874

Đại Việt Văn Sử Vấn Đàm
Group: https://www.facebook.com/groups/DVVSVD/
Page: https://www.facebook.com/DVVSVD/

Đại-Nam Hội-Quán 大南會館
https://www.facebook.com/dainamhoiquan/

Việt Nam Phong Hóa-越南風化
https://www.facebook.com/vietnamphonghoa98/

Tầm Chương Trích Cú 尋章摘句
https://www.facebook.com/tamchuongtrichcu/

Việt Nam Cổ phục Hội – 越南古服會
https://www.facebook.com/groups/318122462045421/

Bắc Hà Thương Quán
https://www.facebook.com/BacHaThuongQuan/

Expert Layman
https://www.facebook.com/Expert-Layman-1781699618773981/

(Updating)

.

_____________________________________
.
Tổng hợp: Tầm Chương Trích Cú 尋章摘句
Blog chia sẻ và tìm hiểu về văn học thơ ca – phong tục tập quán – địa lý vùng miền thời kì cổ đại của Việt Nam.

Đôi lời:
“Danh sách này không sắp xếp theo trình tự nào và do tui tự tổng hợp nên vẫn có thể còn thiếu sót. Mong quý cô bác anh em bè bạn gần xa có thể góp ý/giới thiệu/review thêm để tui update danh sách.

Tiêu chí là các page/group chia sẻ thông tin lịch sử – văn hóa thời kì phong kiến Việt Nam, có một lượng tương tác nhất định, nội dung có sự sáng tạo, tìm tòi nghiên cứu sâu và nguồn gốc thông tin rõ ràng, minh bạch, khách quan.

Nói “lịch sử” thì ai cũng hiểu, còn “văn hóa” thì lại là một khái niệm rộng hơn nhiều: văn học, nghệ thuật thơ ca, sân khấu điện ảnh, âm nhạc, trang phục, nếp sinh hoạt, v.v… Chính vì thế danh sách này sẽ có thay đổi và mở rộng trong tương lai. Các danh sách riêng về nghệ thuật – giải trí, cổ phục, v.v sẽ được lên sóng sau.”

Huynh đệ tương tàn

Nguồn: Sử Hộ Vương

Lại nói về Nguyễn Huệ ra Bắc diệt chúa Trịnh, Nguyễn Nhạc như ngồi trên đống lửa. Ông là Thái Đức hoàng đế, là người đứng đầu Tây Sơn, tại sao Nguyễn Huệ lại tự tiện muốn làm gì thì làm như thế?

Tính ra Nguyễn Huệ sống cạnh anh trai mình, mang tiếng là Long Nhương tướng quân nhưng kỳ thực chỉ là chân sai vặt của Nhạc. Nhạc chỉ đâu đánh đó, xong việc thì về Quy Nhơn, cấm không được đi lung tung. Nguyễn Huệ chăm chỉ kiếm đất về cho Nhạc, nhưng bản thân lại không có đất. Đánh nhiều nhưng cũng không được trọng thưởng xứng đáng, thành ra rất ức chế.

Khi Nguyễn Hữu Chỉnh bày mưu đánh ra Bắc, Huệ suy nghĩ đắn đo dữ lắm vì chưa có lệnh của Nhạc. Chỉnh chốt một câu:

– Tướng ở xa không cần phải có mệnh trên, dù có mệnh lệnh cũng không cần phải nghe!

Thế là Huệ quyết tâm ra Bắc diệt họ Trịnh, mưu đồ tạo sự nghiệp riêng. Thời gian ở Thăng Long thì Huệ sống trong phủ chúa, có yết kiến vua Lê 2 lần, lần đầu ở điện Vạn Thọ, lần sau ở điện Kính Thiên. Huệ dâng sớ báo cáo thành tích nhưng chỉ được vua Lê phong cho một chức nhỏ, không xứng với công lao. Huệ rất bực mình nên có phàn nàn với Chỉnh, nói thẳng luôn tham vọng của mình:

– Ta đánh một trận bình định Bắc Hà, muốn xưng đế có khó gì? Cái chức Nguyên Súy, Uy Quốc Công với ta hơn cái gì? Ta không nhận thì bảo ta kiêu căng, ta nhận mà không nói ra lại bảo ta là kẻ man mọi không biết gì!

Chỉnh thấy Huệ cay cú quá nên phải chữa cháy bằng cách xin vua gả công chúa cho. Khi ấy Nguyễn Huệ mới vui vẻ vì chính thức được ghi tên vào gia phả hoàng tộc vương triều 300 năm nhà Lê với tư cách phò mã. Về sau lại vươn lên đỉnh vinh quang, trở thành Quang Trung hoàng đế đúng như ý nguyện. Nói chung Nguyễn Huệ hoàn toàn xứng với công lao 20 năm tranh đấu nỗ lực không nghỉ để có được cương vị bá chủ thiên hạ.

Trở lại, Nguyễn Nhạc tức tốc chạy ra Thăng Long kêu em về. Nguyễn Huệ nghe lời, nhưng thay vì cùng anh về Quy Nhơn thì ông tới Phú Xuân rồi dừng ở đó. Danh tiếng Nguyễn Huệ lên cao, được nhân dân tôn là Đức Chúa. Nếu như Nhạc là hổ thì Huệ là rồng, mà rồng thì luôn muốn bay cao trên bầu trời riêng của nó chứ chẳng chịu khuất phục ai mãi. Nguyễn Nhạc càng lúc càng lo sợ, mới viết thư giục:

– Em về ngay Quy Nhơn cho anh!

Nguyễn Huệ hồi đáp:

– Tình hình Bắc Hà chưa yên, em chưa về được. Mong anh thông cảm.

Nguyễn Nhạc đọc thư xong tức giận vò nát, rồi cho người tới Phú Xuân hỏi tội. Huệ khi này cũng nổi khùng:

– Tội gì mà hỏi? Ðánh Nam dẹp Bắc để giữ vững ngôi báu cho anh, đó là tội à? Còn đất Thuận Hóa này là của ta lấy từ tay chúa Trịnh. Ta chịu nhịn chẳng qua vì tình anh em. Anh Hai có cho ta miếng đất nào đâu mà bắt ta cứ phải nghe lệnh? Ta có công thì anh quên, còn không có tội thì anh vu cáo! Sao lại bất công thế. Ta không chịu nổi!

Huệ nói xong đập mạnh tay xuống án đứng phắt dậy, quát thất hổ tướng chuẩn bị xuất quân đánh Quy Nhơn, đó là đầu năm 1787. Nhạc biết Huệ sẽ “làm phản” nên cũng sắp sẵn quân binh dàn trước thành, cờ quạt hùng vĩ đỏ rực một khoảng trời để nghênh địch. Khi thấy đoàn chinh phạt xuất hiện, Nguyễn Nhạc tế ngựa lên phía trước:

– Mời chú Ba ra đây nói chuyện.

Nguyễn Huệ mặc áo vải, lạnh lùng đi đến. Nhạc trỏ roi ngựa vào mặt Huệ mắng:

– Làm em mà không nghe lời anh là bất nghĩa, làm tôi mà không nghe lời vua là bất trung. Tôi chạy ngược xuôi buôn bán nuôi cậu từ nhỏ. Tôi chăm sóc mẹ, cậu và mấy đứa em nheo nhóc, để bây giờ cậu phản tôi à?

– Em không phản, nhưng anh đừng bức bách em như thế anh Hai!

Huệ cũng lớn tiếng. Nguyễn Nhạc tay cầm cây thương, nhảy xuống ngựa thách thức:

– Ra đây, tôi phải dạy cậu một trận. Làm anh mà không trị được em là bất tài!

Huệ chẳng nói chẳng rằng, cũng nhảy xuống ngựa, tay nắm chặt cán Ô long đao. Thanh đao này cán bằng gỗ mun đen nhánh, lưỡi đao cũng bằng một loại kim khí màu đen, không có hào quang mà chỉ có khí lạnh. Trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút năm Giáp Thìn, Nguyễn Huệ đã sử dụng thanh Ô long đao chém tướng quân Xiêm lên đến hằng trăm người. Năm Kỷ Dậu, Ô long đao lại đẫm máu quân Thanh xâm lược.

Binh sĩ hai bên im phăng phắc, mọi người đều nín thở khi hai anh em tiến tới giáp mặt nhau. Nguyễn Huệ ngoảnh lại phía sau vẫy một cái, ra hiệu cho quân sĩ không được bắn tên. Nhạc cũng làm tương tự. Huynh đệ họ đứng cách nhau tầm mười thước, sát khí đằng đằng bốc lên như muốn mờ cả sao Đẩu Ngưu. Một trường ác đấu sắp sửa diễn ra tại thành Quy Nhơn. Nhạc khuyên:

– Chú quy phục đi rồi anh em lại như xưa.

Huệ cầm ngang thanh đao, sang sảng nói:

– Cáo lỗi, em đành bất tuân mệnh lệnh!

Nhạc đùng đùng nổi giận sấn tới đánh ngay. Thế là thương đâm qua, đao chém lại vùn vụt. Hai cặp mắt nảy lửa, hai binh khí đập nhau choang choảng. Ô long đao và Độc lư thương ai sẽ thắng? Đây là câu mà rất nhiều danh gia kiếm hiệp từng tự hỏi, ta đây cũng rất muốn biết. Do Nhạc và Huệ đều thụ giáo sư phụ Trương Văn Hiến nên các ngón đòn của nhau họ biết khá rõ. Nhạc có lối đánh uyển chuyển, Huệ thì mạnh mẽ, còn Lữ thì cẩn trọng. Thêm nữa, dù là những đại cao thủ võ lâm đủ sức một kích tất sát đoạt mạng đối phương, nhưng vì nghĩ tình huynh đệ nên cả hai đều nương tay. Thành ra đánh hơn trăm hiệp chưa phân thắng bại.

“Đao đỡ thương rồi thương đỡ đao,
Thương qua đao lại chẳng ai nhường.
Quy Nhơn chiến địa nơi binh dữ,
Huynh đệ tương tàn cảnh đáng thương.”

Nhạc thét vang một tiếng rồi chọc thẳng mũi thương, Huệ đưa đao gạt phăng đi. Không ngờ lực quá mạnh, đao với thương cuốn lấy nhau văng lên trời. Huệ nhanh tay chộp lấy Độc lư thương, còn Nhạc bắt được Ô long đao. Hai người hoán đổi vũ khí cho nhau đánh thêm trăm hiệp. Nhạc sử long đao cũng rất kinh khủng, đao khí ào ạt như vũ bão. Huệ thì đã quá quen với Độc lư thương do đây là tuyệt kỹ ba anh em cùng sáng tạo ra. Vẫn bất phân thắng bại.

Trận đấu kéo dài đến giữa trưa, cả hai đều thở hổn hển, mồ hôi đầm đìa tóc tai. Nhạc dù sao cũng có tuổi hơn Huệ nên thấm mệt trước, tay cầm đao cũng đã lỏng. Huệ nhận ra sơ hở, liền đâm dứ xuống một miếng. Nhạc giật mình đưa đao xuống đỡ. Huệ lập tức xoay cán sắt của cây thương đánh mạnh vào mu bàn tay Nhạc khiến thanh đao bật ra. Tay còn lại của Huệ vung lên thành một chiêu thức. Nhạc nhận ra liền biến sắc: “Chết rồi! Yến phi quyền!”.

Đột nhiên thấy nhói bên mạng sườn, Thái Đức hoàng đế văng ra sau vài thước. Cũng như Hùng kê quyền là võ công trấn phái của Nguyễn Lữ, Yến phi quyền là một bộ chiêu thức do Nguyễn Huệ nghĩ ra. Chiêu vừa rồi nhẹ nhàng như cánh én nhưng uy lực vô song, do Huệ chỉ dùng ba phần công lực nên Nhạc không bị nội thương đến vong mạng.

Chửi lớn một tiếng, Nguyễn Nhạc loạng choạng ngồi dậy, nắm lấy dây cương nhảy lên yên ngựa rồi chạy về trận. Vừa bẽ mặt trước ba quân, vừa căm tức vì thua em trai, Nhạc sai nổi trống lên rồi thúc quân tràn sang đánh. Nguyễn Huệ cũng nhảy lên ngựa rồi ra hiệu toàn quân rút lui. Nhạc tưởng Huệ sợ nên càng hăng máu, nổi trống càng dữ, đuổi theo càng gấp.

Nhưng Nguyễn Huệ là người như thế nào? Là thiên tài quân sự. Ông đã tính trước Nhạc ba, không, thậm chí năm bước. Kế rút quân này ông học từ trận Chi Lăng của nghĩa quân Lam Sơn, làm cho địch khinh thường đuổi theo rồi tung quân mai phục ra đánh. Quả nhiên là như thế. Nguyễn Huệ ra hiệu cho quân Phú Xuân quay đầu đánh trả kịch liệt. Nhạc bị bất ngờ đứng khựng lại. Rồi bỗng nghe tiếng hò reo vang trời chuyển đất, phục binh đổ ra đánh kẹp hai bên. Quân Quy Nhơn chống đỡ không nổi, vứt gươm giáo bỏ chạy, người chết la liệt đầy đường. Nhạc ra sức thúc ngựa chạy thẳng về thành. May mắn thoát thân do Bạch Long Câu chạy rất nhanh nhưng đóng cửa cố thủ không ra nữa.

– Đầu hàng đi anh Hai!

Nguyễn Huệ đứng ngoài thành gọi lớn. Nguyễn Nhạc quát:

– Đừng hòng!

Quân Phú Xuân vây chặt bốn mặt thành Quy Nhơn, tình thế vô cùng nguy cấp. Nhưng hiện tại Nguyễn Nhạc cũng có thể tạm yên tâm vì Quy Nhơn là một pháo đài vô cùng kiên cố, không phải muốn hạ là hạ được. Dù vậy vẫn phải giải vây gấp vì lương thực đang cạn dần. Nhạc gửi thư vào miền nam cho Lữ:

– Chú Tư cứu anh, chú Ba tạo phản!

Nguyễn Lữ ở Gia Định không rõ tình hình tại sao, nhưng vẫn gửi Đặng Văn Trấn cùng quân sĩ ra ứng cứu vua anh. Xui xẻo là gần đến Quy Nhơn thì Đặng Văn Trấn lại bị Nguyễn Huệ bắt sống. Nguyễn Nhạc chờ mãi không thấy viện binh thì càng lo lắng, nhưng vẫn ngoan cố tử thủ. Nguyễn Huệ quyết định phải mạnh tay:

– Đặt hết đại bác lên núi Long Cốt bắn thẳng vào thành Quy Nhơn!

Ôi thôi, một cơn bão đạn dội ầm ầm vào thành. Nguyễn Nhạc đứng bên trong mà có cảm giác cả tòa thành đồ sộ rung lên như gặp địa chấn. Tiếng trống trận Tây Sơn oai hùng một thời là niềm tự hào của ông nay lại trở thành cơn ác mộng. Cứ dứt một hồi trống là thêm một loạt thần công oanh tạc dữ dội. Nguyễn Nhạc ôm đầu khi một viên đạn lao thẳng như sấm sét vào nóc chính điện, sạt lở một mảng tường to.

– Trời ơi thằng này nó quyết chơi khô máu với mình đây mà.

Ông hết cách, bèn đi lên mặt thành khóc mà nói vọng xuống:

– Anh em trong nhà mà chú nỡ nồi da xáo thịt vậy à?

Nguyễn Huệ đáp lại:

– Anh mở cổng thành, thả hết gia quyến các tướng của em ra rồi anh em mình nói chuyện tiếp!

Nguyễn Nhạc quay lưng đi xuống, rồi vào thẳng trong phủ Thái hậu. Nguyễn Nhạc không muốn mẹ biết nên trước đó chỉ nói là bị quân địch bao vây thành, giờ mới tâu thật. Thái hậu nghe xong tát Nguyễn Nhạc một cái muốn nổ đom đóm mắt, bà mắng:

– Già rồi mà còn dại, có cháu ngoại rồi mà còn ngu! Để mẹ đi nói chuyện với thằng Ba.

Nhạc vốn có hiếu nên chỉ vâng dạ rồi tháp tùng mẹ đi ra bên ngoài thành Quy Nhơn. Nguyễn Huệ thấy mẹ thì vội vã chạy đến. Ông trình bày lý do động binh, lạy mẹ và anh, rồi ra lệnh giải vây. Nguyễn Nhạc cũng trả lại gia quyến cho các tướng Nguyễn Huệ. Hai anh em bắt tay làm hòa với nhau.

Và thế là Việt Nam chia thành ba vùng, từ đèo Hải Vân trở ra bắc do Nguyễn Huệ làm chủ, Nguyễn Nhạc là hoàng đế trung ương ở Quy Nhơn, còn Nguyễn Lữ trấn thủ Gia Định. Trở thành cục diện tam phân thiên hạ.

Tác giả: @Phạm Vĩnh Lộc – Trích phần 4/11, series Nguyễn Huệ phiêu lưu ký.

Art: Bí「Pumpkin 」

Vì sao vua Gia Long trả thù tàn khốc nhà Tây Sơn?

Nguồn: Nghiên cứu quốc tế

Tác giả: Võ Hương An

Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát, ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?

Đôi nét lịch sử

Sau 25 năm chiến đấu kiên trì và gian khổ, ngày mồng 3 tháng 5 năm Tân Dậu (13/6/1801) Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô cũ Phú Xuân, đuổi vua tôi Cảnh Thịnh chạy dài ra Bắc. Một năm sau, ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1/6/1802), tuy chưa chính thức lên ngôi hoàng đế (1) nhưng theo lời đề nghị của bầy tôi, vua ban hành niên hiệu Gia Long, mở ra một triều đại mới của nhà Nguyễn.

Vào đầu thế kỷ XX, vua Khải Định đã chọn ngày này (mồng 2 tháng Năm âm lịch) làm ngày quốc khánh của nước Đại Nam, đặt tên là ngày Hưng quốc khánh niệm. Những ai ở lứa tuổi trên 70 ở Trung kỳ, từng cắp sách đến trường có thể còn nhớ đôi chút về ngày này, nhất là ở Huế. Đó là ngày mừng đất nước thống nhất. Niên hiệu Gia Long bao hàm trong ý nghĩa đó – vua muốn nói ông là người đã đi từ Gia Định thành tới Thăng Long thành để thống nhất đất nước (Võ Hương-An, Thăng Long và Gia Long).

Ngay sau khi chiếm lại Phú Xuân và trong khi vua Cảnh Thịnh của Tây Sơn đang còn làm chủ ở miền Bắc thì Nguyễn Vương đã cho “Phá hủy mộ giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ, bổ săng, phơi thây, bêu đầu ở chợ” (Thực lục I, tr.473).

Sau khi chiếm được Bắc Hà, bắt được trọn gói vua tôi, anh em vua Cảnh Thịnh, hoàn thành cuộc thống nhất đất nước từ Nam chí Bắc, vua Gia Long khải hoàn về kinh. Ngày Giáp Tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 (7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802) vua đem tù binh ra làm lễ hiến phù ở Thái Miếu. Hiến phù là lễ trình diện tù binh trước bàn thờ tổ tiên, và Thái Miếu là nơi thờ 9 đời chúa Nguyễn.

Sau lễ, “Sai Nguyễn Văn Khiêm là Đô thống chế dinh Túc trực, Nguyễn Đăng Hựu là Tham tri Hình bộ áp dẫn Nguyễn Quang Toản [vua Cảnh Thịnh] và em là Quang Duy, Quang Thiệu, Quang Bàn ra ngoài cửa thành, xử án lăng trì, cho 5 voi xé xác, đem hài cốt của Nguyễn Văn Nhạc và Nguyễn Văn Huệ giã nát rồi vất đi, còn xương đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản và mộc chủ [bài vị] của vợ chồng Huệ thì đều giam ở Nhà đồ Ngoại [Ngoại Đồ Gia, cơ quan chế tạo của triều đình, sau gọi là Võ Khố] (năm Minh Mệnh thứ 2 đổi giam vào ngục thất cấm cố mãi mãi). Còn đồ đảng là bọn Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng đều xử trị hết phép, bêu đầu cho mọi người biết. Xuống chiếu bố cáo trong ngoài” (Thực lục I, tr.531).

Trong chiếu bố cáo cho toàn dân được rõ về lễ hiến phù ngày 7 háng 11 Nhâm tuất, có câu mở đầu: “Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…” và kết thúc bằng câu “Nhạc Huệ trời đã giết rồi, cũng đem phanh xác tan xương, để trả thù cho Miếu Xã, rửa hận cho thần nhân” (Thực lục I, tr.532,533).

Theo tài liệu của Bissachère, trước khi nhận lãnh cái chết thảm khốc, anh em vua Cảnh Thịnh còn bị bắt phải chứng kiến cảnh lính tráng tiểu tiện vào sọt đựng hài cốt của cha (Nguyễn Huệ) và bác (Nguyễn Nhạc) (theo hồi ký của Bissachère) trước khi hài cốt bị đem “giã nát rồi vất đi”.

Phẩm bình của lịch sử

Tại miền Nam trước 1975, có hai bộ thông sử tiếng Việt thông dụng là Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim và Việt Sử Toàn Thư của Phạm Văn Sơn. Viết về vua Gia Long, cả hai bộ sử đều giống nhau ở một điểm: có phê phán sự hẹp lượng của vua Gia Long qua việc giết hại công thần (vụ án Nguyễn Văn Thành và vụ án Đặng Trần Thường), có kể rõ việc hành hình trả thù Tây Sơn nhưng hoàn toàn không bình luận, phê phán gì đến sự “quá tay” trong việc này. Tại sao?

Hoa Bằng, tác giả Quang Trung, Anh hùng dân tộc (Nxb Bốn Phương, Saigon, 1953) khi kết luận thiên biên khảo đầu tiên bằng tiếng Việt về đề tài này đã ngậm ngùi viết: “Vậy mà Nã Phá Luân [Napoléon I] được gởi nắm xương trong đền Invalides để cho người sau hoài niệm, viếng thăm; còn Quang Trung: mả phải đào, xương phải tán, dòng dõi bị chu di, sự nghiệp liệt liệt oanh oanh gói tròn trong một chữ ‘Ngụy’”.

Nhà viết sử Trần Gia Phụng trong Nhà Tây Sơn (Nxb Non Nước, Toronto, 2005) cũng đã có lời bình phẩm nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc: “Cuộc trả thù được vua Gia Long xem là ‘nghĩa lớn Kinh Xuân Thu’ nhưng hành hạ di cốt địch thủ trước mắt con cái họ trái hẳn với đạo lý cổ truyền của dân tộc” (tr.240).

Phê bình mạnh tay, mạnh mẽ hơn có Quách Giao:

Nhà Nguyễn đối với nhà Tây Sơn vô cùng khắc nghiệt. Quật mả Vua Thái Ðức, Vua Quang Trung, chém giết dòng họ, tướng tá nhà Tây Sơn đến thế, Nguyễn Phúc Ánh chưa cho là đủ, còn truyền đào mồ mả của cha ông hai nhà anh hùng áo vải và của những người đã theo nhà Tây Sơn và đã chết trước khi non sông đổi chủ.

Còn đối với Nhà Tây Sơn thì Nguyễn Phúc Ánh chém tất cả dòng họ, từ Vua Bửu Hưng [Cảnh Thịnh], cho tới một em bé mới sanh mà đã lọt vào ngục thất. Lại truyền đào mả Vua Thái Ðức và Vua Quang Trung, nghiền xương đổ xuống bể. Còn sọ thì đem xiềng nơi ngục thất trong Hoàng Cung để làm lọ đi tiểu.

Ðể nhổ cỏ cho sạch gốc, Nguyễn Phúc Ánh sức mọi nơi truy tầm những bà con gần xa của họ Nguyễn Tây Sơn, và những Tướng Tá của Tây Sơn còn trốn tránh nơi sơn dã. Hai người con Vua Thái Ðức là Văn Ðức, Văn Lương và cháu nội, con Nguyễn Bảo, là Văn Ðẩu, nương náu nơi Mộ Ðiểu, vùng An Khê.

Vua tôi Nhà Nguyễn biết nhưng sợ người Thượng, không dám đến bắt. Mãi đến năm Minh Mạng thứ 12 (1832) thấy tình thế đã yên, ba chú cháu mới đem nhau về thăm quê cũ ở Kiên Mỹ. Bọn bất lương đi mật báo. Quân Nhà Nguyễn đến vây bắt giải về Phú Xuân giết chết.

Ngót 150 năm, Nhà Nguyễn cố làm cho người người quên Nhà Tây Sơn. Những người yêu nước vẫn luôn nhớ đến Nhà Tây Sơn, ngọn bút yêu nước vẫn chép đi chép lại, vẫn tìm tòi trong nơi khuất tịch những tài liệu còn dấu cất, để viết về Nhà Tây Sơn.

Và tiếng Anh hùng Áo Vải, Anh Hùng Dân Tộc mãi còn vang, khi nhẹ nhàng, khi mạnh mẽ, trên đất nước Việt Nam, từ Nam chí Bắc. Còn Nhà Nguyễn đã làm được gì?

Có người bảo rằng đã thống nhất Bắc Nam. Ðó là quên rằng chính Nhà Tây Sơn đã thống nhất Bắc Nam, rồi Nguyễn Phúc Ánh đánh chiếm trên tay Ðông Ðịnh Vương và Cảnh Thịnh. Sau bao phen bể nổi dâu chìm Nhà Nguyễn còn để lại tiếng Rước voi, cõng rắn.

Trăm năm bia đá thời mòn

Nghìn năm bia miệng mãi còn trơ trơ.

Trong văn hóa phương Tây, đánh nhau là đánh nhau nhưng không có chuyện trả thù kẻ chiến bại một cách tàn nhẫn, nhất là đối với người đã chết. Do đó, khi bắt gặp hành động “dã man” này của vua Gia Long, Stanley Karnow, tác giả tiếng tăm bộ sử VietNam, A History (Penguin Book, 1984) đã viết:

“Ông ta tỏ ra chẳng khoan dung chút nào đối với kẻ thù đã chiến bại, dù đã chết hay còn sống. Binh sĩ của ông đã quật xương cốt của một cặp vợ chồng cầm đầu Tây Sơn đã chết [Nguyễn Huệ], tiểu tiện vào xương cốt đó trước sự chứng kiến của con cái họ và những người này sau đó tay chân bị trói vào 4 con voi và xé nát.” (p.65)

Nếu Nhà Tây Sơn không có Quang Trung Nguyễn Huệ với chiến thắng quân Thanh và quân Xiêm vang dội trong lịch sử thì hành động “vì 9 đời mà trả thù” của vua Gia Long chưa chắc đã bị búa rìu dư luận nhiều như đã xảy ra.

Ngoài việc ghi chép khá rõ ràng của Quốc Sử Quán Nhà Nguyễn thì hồi ký sống động của giáo sĩ De la Bissachère về việc hành hình trả thù của vua Gia Long đối với anh em và vua tôi Cảnh Thịnh (2), đã gây tác động tâm lý không nhỏ trong giới sử học Đông Tây (Thực ra ông này không chứng kiến cuộc hành hình mà chỉ nghe ai đó kể lại).

Thử đi vào mạng lưới toàn cầu, gõ mấy từ khóa như Gia Long, Tây Sơn, Nguyễn Huệ, thì tha hồ đọc công luận phẩm bình, đa số đều chê Gia Long về việc này. Điều này cũng dễ hiễu thôi vì hào quang chiến thắng quân Xiêm và quân Thanh của vua Quang Trung rực rỡ quá, đã che mất sự thật thê thảm ở bên trong.

Thêm vào đó, với mấy chục năm lịch sử triều Nguyễn do Gia Long khai sáng, đã bị miệt thị thậm tệ, đã ảnh hưởng không ít trên sự nhận thức của người đọc, nhất là giới trẻ. Mặc dầu ngày nay gió đã đổi chiều, đã bắt đầu có sự chuyển biến trong nhận thức về sự nghiệp của Nhà Nguyễn (3) nhưng không thiếu chi người vẫn tư duy trong nếp cũ.

Câu hỏi đặt ra

Các sách sử Việt Nam viết về hành vi “tàn ác” trả thù Tây Sơn của vua Gia Long đều lấy tài liệu từ các bộ chánh sử của Nhà Nguyễn (Đại Nam Thục lục đệ nhất kỷ, Đại Nam Liệt Truyện ), trước khi biết đến các chi tiết khác do nguồn sử liệu Tây phương cung cấp. Sử thần Nhà Nguyễn trong Quốc Sử Quán đã không giấu diếm gì cả, viết trắng chuyện này ra cho hậu thế cùng biết, người sau chỉ lặp lại, chỉ thêm lời bình phẩm nặng nể mà không có bớt.

Riêng người viết, trong niềm ngưỡng mộ chiến thắng oanh liệt hào hùng của vua Quang Trung trước quân Xiêm và quân Thanh xâm lăng, ban đầu thì cũng đồng ý với những bình phẩm chê trách hành động của vua Gia Long đối với Tây Sơn là thái quá, tàn nhẫn, nhưng sau đó, khi được biết những nguồn tin khác, không khỏi đắn đo tự hỏi và tìm lời giải đáp.

Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát (4) .Ngay cả việc đối với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm trời, vậy mà khi đã lấy được nước (1802), vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh chứ đâu đến cạn tàu ráo máng như với Tây Sơn?

Sau khi làm chủ Bắc hà, vua “Sai chọn người dòng dõi họ Trịnh để giữ việc thờ cúng họ Trịnh. Trước là khi đại giá Bắc phạt, người họ Trịnh ai ai cũng sợ bị giết. Vua thấu rõ tâm tình, xuống chiếu dụ rằng: ‘Tiên đế ta với họ Trịnh vốn là nghĩa thông gia. Trung gian Nam Bắc chia đôi, dần nên ngăn cách, đó là việc đã qua của người trước, không nên nói nữa. Ngày nay, trong ngoài một nhà, nghĩ lại mối tình thích thuộc bao đời, thương người còn sống, nhớ người đã mất, nên lấy tình hậu mà đối xử. Vậy nên cùng báo cho nhau, họp chọn lấy một người trưởng họ, giữ việc thờ cúng để giữ tình nghĩa đời đời” (Thực lục I, tr.508).

Vậy là Trịnh Tư được giao lo việc thờ cúng, họ Trịnh được cấp 500 mẫu ruộng để lấy huê lợi cúng tế hàng năm, 247 người họ Trịnh được xét tha thuế dinh và miễn binh dao (đi lính và chịu sưu dịch).

Ai cũng biết La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, được coi như một Gia Cát Lượng của vua Quang Trung, một cố vấn tối cao, được vua quan trên dưới đều kính nể (4 lần vua khẩn khoản mời ra giúp, cuối cùng nhận chức Viện trưởng Viện Sùng Chính năm 1790, giúp vua chấn chỉnh việc giáo dục, văn hóa, giúp vua chọn đất Nghệ An làm Phượng Hoàng trung đô…).

Khi Nguyễn Vương tái chiếm Phú Xuân, ông đang ở Huế giúp vua Cảnh Thịnh nhưng không chạy theo khi vua đào thoát (hay chạy theo không kịp?) và dường như không bị bị bắt mà chỉ quản thúc tại gia, dù phía Nguyễn Vương biết rõ lý lịch, sau đó Nguyễn Vương đã ra lệnh:

“Thả xử sĩ ở Nghệ An là Nguyễn Thiếp về. Thiếp là người xã Nguyệt Áo huyện La Sơn, đậu Hương tiến đời Lê, làm quan huyện Thanh Chương, bỏ quan về nhà. Khi nhà Lê mất, theo lời mời của Nguyễn Quang Toản mà ở lại Phú Xuân. Tới nay vào yết kiến, xin trở về làng. Vua [Nguyễn Vương] dụ rằng ‘Khanh là người tuổi tác, đạo đức, rất được người ta trông cậy. Sau khi trở về núi nên khéo léo đào tạo lấy nhiều học trò để ra sức phò giúp thịnh triều, khỏi phụ tấm lòng rất mực mến lão kính hiền của ta.’ [người viết in đậm]. Bèn sai quan quân đưa về” (Thực lục I, tr.445).

Lại năm 1803, phái đoàn do vua Cảnh Thịnh phái đi sứ Nhà Thanh (gồm Lê Đức Thận, Nguyễn Đăng Sở và Vũ Duy Nghi) bị trả về nước, bị quan Bắc thành bắt giải về Kinh, vua Gia Long tha hết cho về quê. Lại khi Bộ Hình tâu xin vua định đoạt số phận của người vợ lẽ Nguyễn Nhạc cùng 2 người em họ tên Đại và Vạn bị bắt thì vua nói: “Vợ lẽ Nhạc là một người đàn bà thôi. Bọn Đại tuy là thân đảng của giặc Nhạc mà không dự binh quyền, nay Nhạc chết rồi, giết đi thì có ích gì?” (Thực lục I, tr.544).

Những chứng dẫn nho nhỏ đó cho thấy vua Gia Long là con người phải chăng, tùy theo người, theo trường hợp mà có quyết định tha hay phạt, chứ không phải bạ đâu giết đó, thà giết lầm hơn bỏ sót. Vậy tại sao giết Tây Sơn chưa đủ, phải hành hạ mới hả, kể cả nắm xương khô. Thù chi mà dữ vậy?

Sự thật là đây

Về chuyện vua Gia Long trả thù Tây Sơn, nhà viết sử Trần Gia Phụng đã đi xa hơn các học giả đi trước khi lần đầu tiên ông phân tích chính xác rằng:

“Không kể cá nhân ông bị quân đội Tây Sơn truy đuổi nhiều lần suýt chết, vua Gia Long thâm thù nhà Tây Sơn vì ba việc chính: thứ nhất, năm 1777 Định Vương Nguyễn Phúc Thuần [chú ruột vua Gia Long], Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương [em chú bác ruột] và Nguyễn Phúc Đồng [anh ruột] bị quân Tây Sơn bắt giết ở Gia Định. Thứ nhì, hai người em [ruột] của Gia Long là Nguyễn Phúc Mân và Nguyễn Phúc Thiển bị chết về tay quân Tây Sơn năm 1783. Thứ ba, vua Quang Trung cho quật mộ của Nguyễn Phúc Côn (phụ thân của Gia Long), đem hài cốt đổ xuống sông năm 1790” (Việt Sử Đại Cương, Tập 2, tr.445).

Chừng đó nợ máu nghe đã nặng (5 người cật ruột), nhất là món nợ thứ 3, nhẹ vật chất mà nặng tâm linh và đạo đức, ít người biết. Nhưng kể vậy cũng chưa đủ.

Khi đọc câu mở đầu của chiếu bố cáo lễ hiến phù: “Trẫm nghe, vì chín đời mà trả thù là nghĩa lớn kinh Xuân Thu…” (5) (Thực lục I, tr.532) tôi không khỏi mỉm cười một mình với ý nghĩ: thiệt mấy ông đời xưa văn chương lớn lối quá, cái chi cũng lôi điển tích với sách vở ra, tô vẽ cho long trọng. Nhưng sau đó, khi đọc kỹ Thực lục mới biết mấy chữ vì 9 đời mà trả thù mang một ý nghĩa rất thực, rất cụ thể, bên cạnh màu sắc điển tích văn chương tô điểm.

Ngày 13/6/1801, Nguyễn Vương (vua Gia Long) tái chiếm kinh đô Phú Xuân, nơi ông đã vội vã ra đi khi mới 13 tuổi (ta), và ròng rã 27 năm mơ ước được trở về. Tuy đã làm chủ được Phú Xuân nhưng lực lượng hùng hậu của Tây Sơn Cảnh Thịnh vẫn còn ở bên kia lũy Trường Dục (Quảng Bình), vậy mà đến đầu tháng 8 năm đó đã lo sửa sang lăng mộ tổ tiên và cấp tốc hoàn tất ngay trong tháng.

Sao việc này lại làm gấp rút còn hơn cả công tác sửa sang thành trì, xây đồn đắp luỹ để phòng chống Tây Sơn? Xin đọc kỹ đoạn ghi chép của Thực lục sau đây, có thể thấy được lý do thúc đẩy (những chữ in đậm là do người viết, chữ ghi giữa hai ngoặc đứng [x] là chú giải của người viết):

“Tháng 9, ngày Ất hợi [ 9/8/1801], sửa lại sơn lăng.

Trước kia giặc Tây Sơn Nguyễn Văn Huệ tham bạo vô lễ, nghe nói chỗ đất phía sau lăng Kim Ngọc (tức lăng Trường Mậu) [lăng của chúa Ninh Nguyễn Phúc Thái] rất tốt, định đem hài cốt vợ táng ở đó. Hôm đào huyệt, bỗng có hai con cọp ở bụi rậm nhảy ra, gầm thét vồ cắn, quân giặc sợ chạy. Huệ ghét, không muốn chôn nữa. Sau Huệ đánh trận hay thua, người ta đều nói các lăng liệt thánh [các chúa Nguyễn] khí tốt nghi ngút, nghiệp đế tất dấy.

Huệ bực tức, sai đồ đảng đào các lăng, mở lấy hài cốt quăng xuống vực. Lăng Hoàng Khảo ở Cư Hóa [lăng Cơ Thánh của Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long] Huệ cũng sai Đô đốc Nguyễn Văn Ngũ đào vứt hài cốt xuống vực ở trước lăng. Nhà Ngũ ở xã Kim Long bỗng phát hỏa. Ngũ trông thấy ngọn lửa chạy về. Người xã Cư Hóa là Nguyễn Ngọc Huyên cùng với con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài ban đêm lặn xuống nước lấy vụng hài cốt ấy đem giấu một nơi. Đến nay, Huyên đem việc tâu lên.

Vua thương xót vô cùng, thân đến xem chỗ ấy, thì vực đã bồi cát mấy chục trượng. Tức thì sai chọn ngày lành làm lễ cáo và an táng lại. Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Ngày Kỷ hợi [1/11/1801], vua thân đến tế cáo, nghẹn ngào sa lệ, bầy tôi đều khóc cả. Sai đổi xã Cư Hóa làm xã Cư Chính, cho dân miễn dao dịch làm hộ lăng. Cho Huyên làm Cai đội (năm Minh Mệnh thứ 11[1830] phong An Ninh bá, lập đền thờ ở núi Cư Chính) con là Ngọc Hồ, Ngọc Đoài tòng quân ở Bình Định cũng được gọi về hậu thưởng cho” (Thực lục I, tr.466).

Gạt ra ngoài những chi tiết hoa lá cành như hai con cọp trong bụi rậm nhảy ra, đang đào mả thì nhà cháy, v.v., đoạn sử ngắn ngủi do Thực lục ghi lại tiết lộ hai điều quan trọng mà ít người biết đến hoặc biết mà vì một lý do nào đó đã lơ đi hoặc chỉ phớt nhẹ nói qua:

– Thứ nhất, Quang Trung Nguyễn Huệ đã đào hết lăng tẩm của 8 đời chúa Nguyễn tại Thừa Thiên, lấy hài cốt ném xuống sông. Việc này cộng với việc giết chết vị chúa thứ 9 là Định Vương Nguyễn Phúc Thuần tại Long Xuyên năm 1777 thì quả nhiên vua Gia Long tính sổ 9 đời không sai chậy chút nào. Vì vậy có thể nói được rằng chữ 9 đời có một ý nghĩa rất cụ thể.

Đây là 8 đời chúa Nguyễn:

  1. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-1613);
  2. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635);
  3. Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648);
  4. Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687)
  5. Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Thái (1687-1691);
  6. Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu (1691-1725);
  7. Chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ (1725-1738);
  8. Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765);

Về ông tổ Nguyễn Kim, có lẽ vì không biết đích xác mộ phần nẳm ở đâu trong cái bát ngát của núi Triệu Tường ở Thanh Hóa, nên vua Quang Trung đành phải cho qua mà không tính sổ.

Tám đời chúa Nguyễn này không có hận thù gì với anh em Tây Sơn, đã có công rất lớn đối với dân tộc và đất nước khi kế tục nhau mở nước về phương Nam, đến tận Cà Mau, Châu Đốc, cống hiến cho tổ quốc non một nửa nước, trài dài từ Phú Yên trở vào Nam, với đất đai trù phú, nguồn lợi dồi dào, rộng hơn lãnh thổ nam tiến của các triều Lý, Trần, Hồ và Hậu Lê cộng lại. Không có sự nghiệp này thì hậu thế ngày nay lấy chi để khoe với thế giới rằng “nước ta hình cong như chữ S” với “rừng vàng biển bạc”?!

– Thứ hai: Phần mộ của ông Nguyễn Phúc Côn, thân sinh vua Gia Long cũng bị quật lên và hài cốt ném xuống sông.

Ông Nguyễn Phúc Côn là con thứ hai của Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, mất năm 1765, khi con là Nguyễn Phúc Ánh đang còn bé. Khi vua Gia Long lên ngôi Hoàng đế (1806) mới truy tôn cha làm Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng Đế, chứ cho đến khi chết dưới tay quyền thần Trương Phúc Loan, ông chẳng làm vua làm chúa gì. Chỉ vì con ông là Nguyễn Phúc Ánh dám chống lại Tây Sơn mà ông đã không được ngủ yên, lâm vào cảnh con làm cha chịu!

Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả cho biết thêm một chi tiết khác:

“Theo truyền thuyết, khi Tây Sơn khai quật hài cốt đức Hưng Tổ ném xuống sông thì một hôm Nguyễn Ngọc Huyên bỏ lưới bắt cá, sau ba lần đều thấy cái sọ nằm trong lưới. Huyên cho là sọ của một vị nào anh linh nên kiếm nơi an táng tử tế. Khi vua Gia Long lên ngôi, đi tìm lại hài cốt của thân phụ, nghe người làng tường thuật, ngài cho đòi Ngọc Huyên bảo chỉ chỗ. Khi đào được sọ lên, vua chích huyết ở tay mình cho giọt vào sọ, sọ liền hút những giọt huyết này (lối thử này cho biết mối liên hệ cốt nhục giữa hai người)” (tr.193).

Thực lục có nói khi Nguyễn Ngọc Huyên chết thì được lập đền thờ và phong làm An Ninh bá. Ở thượng lưu sông Hương có một ngôi miếu, tục gọi là miếu Ông Chài, chính là miếu ông Huyên vậy.

Trong văn hóa Việt Nam, phận làm con cháu là phải lo gìn giữ mồ mả tiên tổ cha ông. Do đó chúng ta thông cảm với vua Gia Long chỉ trong 2 tháng sau khi tái chiếm Phú Xuân đã vội vã hoàn tất việc tu sửa lăng mộ bởi khi đã biết tình trạng lăng mộ bị phá tanh banh thê thảm như thế thì không một ai có thể chờ đợi được nữa.

Trong lịch sử Việt Nam, việc tranh giành quyền lực dẫn đến những hành động giết hại nhau tàn nhẫn không phải là hiếm. Điển hình, để cướp ngôi nhà Lý, Trần Thủ Độ không ngần ngại dồn Lý Huệ Tông vào chỗ chết, với ý đồ nhổ cỏ tận gốc, mặc dù Huệ Tông đã biết thân phận, bỏ ngai vàng, vào tu ở chùa Chân Giáo. Đã thế, Trần Thủ Độ còn bày mưu sập bẫy tôn thất Nhà Lý chôn sống trọn gói (may mà Hoàng tử Lý Long Tường nhanh chân thoát qua tị nạn ở Cao Ly, trở thành thuỷ tổ họ Lý của xứ Đại Hàn ngày nay).

Nhưng có lẽ trong cuộc tranh chấp quyền lực chưa có ai trong lịch sử phải trả cái giá 5 mạng người ruột thịt và 9 ngôi mộ cha ông tiên tổ tanh banh với xương cốt không biết đâu tìm như trường hợp vua Gia Long trong khi đối đầu với Tây Sơn để phục hồi cơ nghiệp của ông cha đã tốn công xây dựng.

Ở đời, có vay thì có trả. Nợ nào cũng có tính lãi suất, chỉ có khác là nặng hay nhẹ, không hình thức này cũng hình thức khác. Nếu Quang Trung Nguyễn Huệ không tạo nhân ác thì có thể đã không gặp quả ác. Hận thù luôn luôn vẫy gọi thù hận là chuyện thường của thế gian, huống chi lại có yếu tố tranh giành quyền lực trong đó, tham lam và sân hận hẳn phải bốc lên ngùn ngụt.

Phải chăng nên thử tự đặt mình vào địa vị của vua Gia Long để có nhiều thông cảm và có lời phẩm bình phải chăng hơn.

Một vài cảm nghĩ

Là hậu thế, có lẽ không mấy ai vui khi biết sự thật của tấn thảm kịch Nguyễn Quang Trung và Nguyễn Gia Long. Cả hai, đối với chúng ta, đều có chỗ đáng tôn vinh lẫn chỗ bất cập. Riêng ngưởi viết, từ tấn thảm kịch lịch sử này, học hỏi được một đôi điều, xin gọi là chia sẻ.

1/ Qua việc điện thư của bạn bè và thân hữu gởi đến tới tấp kèm chuyện “Một ngày lễ Vu lan sầu thảm” của Tịnh Thuỷ, tôi nhận ra rằng té ra loại “lịch sử tiểu thuyết” dễ đi vào lòng người hơn là chính sử khô khan. Đồng ý khi tiểu thuyết hóa lịch sử thì tha hồ cho trí tưởng tượng vẽ vời nhưng cái căn bản của nó xin đừng đổi trắng thay đen.

Thực lục ghi rõ vụ hành hình vua tôi anh em Cảnh Thịnh diễn ra ngày giáp tuất tháng 11 năm Gia Long thứ 1 tức ngày 7 tháng 11 Nhâm Tuất, 1/12/1802. Làm chi có ngày Vu Lan trong đó? Có lẽ tác giả muốn gây ấn tượng cho ngưởi đọc về sự tàn ác khó dung tha của vua Gia Long nên mới lựa một ngày như thế. Tội nghiệp cho vua! Vua chỉ dự lễ hiến phù, không dự cuộc hành hình, chỉ sai quan thi hành, nên cuộc đối thoại tay đôi giữa vua và bà Bùi Thị Xuân cũng chỉ là cơ hội bày ra để mạt sát thoải mái. Tội nghiệp.

2/ Việc cải táng mộ ông Nguyễn Phúc Côn có thể hiểu được, vì tìm được hài cốt và hài cốt này đã được vua Gia Long xác tín rằng đó là di cốt của người đã sinh thành ra ông. Nhưng với 8 chúa thì sao? Sử nói Các lăng đều theo nền cũ mà xây cao lên. Đồng ý là xây lên cao, làm cho to lớn đẹp đẽ hơn xưa, nhưng hài cốt không tìm thấy thì chôn cái gì trong đó? Chẳng lẽ chỉ là một ngôi mộ trống không? Một cái mả gió?

Trong một dịp về thăm Huế sau 7 năm “đi học làm người tốt” (!), tôi được biết sau năm 1975, do đói quá, người ta đã làm bậy. Việc đào trộm mồ mả lăng tẩm giới quyền quí đã xảy ra với ý đồ tìm vàng bạc châu báu tùy táng. Người bạn kể cho nghe (tôi chưa có cơ hội kiểm chứng) khi cụ Vương Hồng Sển, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng của Miền Nam, biết được kẻ gian đã kiếm được nữ trang trong lăng Hoàng Thái Hậu Từ Dũ (vợ vua Thiệu Trị, mẹ vua Tự Đức) và đem bán thì cụ đã kêu trời.

Dưới cái nhìn cơm áo của kẻ trộm, đó là vàng, tính theo thời giá của chỉ và lượng. Dưới cái nhìn của cụ Vương, đó là đổ cổ vô giá của quốc gia! Nhưng đó không phải là chi tiết tôi quan tâm, vì bảo vật quốc gia người ta bán ra nước ngoài nhiều rồi. Chi tiết lý thú mà tôi nghe được đã giúp tôi hiểu biết thêm và lý giải thắc mắc nêu trên. Chi tiết đó là, bọn kẻ trộm, khi đào đến quan tài của một ông chúa nào đó đã không thấy hài cốt mà chỉ thấy hình người ta bằng gỗ! Điều này xác nhận giả thiết mà tôi đã nghĩ trong đầu nhưng không biết cách nào để kiểm chứng, ấy là tục chiêu hồn nạp táng.

“Chiêu hồn nạp táng” là gì?

“Trong gia phả các họ rất chú trọng mục: Mộ táng ở đâu. Trong mục này có một số trường hợp ghi chú: “Chiêu hồn nạp táng”. Đó là những ngôi mộ không có tử thi, hài cốt, mộ người chết trận, chết đuối hay do thú dữ vồ… không tìm được tử thi. Thân nhân làm hình nhân và làm lễ an táng theo như lễ an táng thông thường.

Được nghe các cụ kể lại rằng: chất liệu làm hình nhân, có địa phương dùng cây núc nác (còn gọi là sò đo thuyền, mộc hồ điệp, nam hoàng bá, bạch ngọc nhi). Núc nác là loại gỗ mềm và xốp, dễ tạo hình, chôn dưới đất lâu hoai, lại dễ kiếm vì mọc ở nhiều nơi. Có địa phương dùng bùn lấy ở giữa dòng sông, có địa phương dùng mùn đào ở giữa ngã tư đường cái.

Hình nhân được đẽo gọt hoặc nhào nặn thô sơ, có đầu mình chân tay là được (vì đa số không phải là nghệ nhân). Kích thước của hình nhân khoảng 30-40 cm chiều dài. Thi hài tượng trưng đó cũng được khâm liệm, đưa vào áo quan làm bằng gỗ vàng tâm, kích thước nhỏ bé, hoặc đưa vào tiểu sành.

Trên hình nhân có phủ lên linh vị viết trên giấy kim tuyến, nội dung giống như linh vị đặt ở bàn thờ. Trước khi làm lễ an táng có mời thầy cúng làm bùa ấn phù phép để vong hồn nhập vào hình nhân. Lễ an táng và các lễ các lễ khác cũng tiến hành như tang lễ thông thường.

3/ Hình như có một nhà tư tưởng nào đó đã nói: “Làm thầy thuốc lầm thì chết một người; làm thầy địa lý lầm thì giết một họ; làm chính trị lầm thì giết một nước, làm làm văn hóa lầm giết cả một đời”.

Dưới ảnh hưởng của môn phong thủy Trung Hoa, người Việt từ vua cho chí dân đều tin rằng âm phần tổ tiên có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh và tương lai của con cháu. Bởi vậy ai cũng mong muốn tìm cho được một huyệt mả tốt để được kết phát, để con cháu được hưởng phước vinh hoa phú quí dài lâu. Bởi vậy, để tận diệt kẻ thù không gì bằng triệt long mạch, phá huyệt mộ, đào mả cha ông nhà người ta lên.

Làm thế thì chắc chắn con cháu không thể nào ngóc đầu lên được, lấy gì mà chống trả. Quang Trung Nguyễn Huệ, ngoài việc sử dụng binh lực đánh Nguyễn Vương chạy dài ra biển, trốn qua đến Xiêm La hai lần, vẫn không quên sử dụng chiêu thức này để hỗ trợ. Và để cho chắc ăn, thà phá lầm hơn bỏ sót, đã không những quật mồ thân sinh vua Gia Long là huyết thống trực hệ mà còn quật mồ cả 8 đời chúa Nguyễn xa lắc. Thật là một sự tính toán chu đáo.

Tuy toan tính chu đáo như vậy nhưng Nhà Tây Sơn Nguyễn Huệ chỉ tồn tại có 14 năm (1788-1802, 1788 là năm vua Quang Trung đăng quang trước khi ra Bắc phá quân Thanh), trong khi Nguyễn Vương, mặc dầu bị đánh trúng tử huyệt (theo quan niệm phong thủy) nhưng sau 25 năm bền bĩ chiến đấu nhọc nhằn, đã thống nhất đất nước, phục hưng được cơ nghiệp tổ tiên, lập ra triều đại mới, tồn tại 143 năm (1802-1945).

Vậy là thế nào? Chẳng lẽ phong thủy hoàn tòan là một thứ tin mê tín dị đoan? Không, không thể vì vậy mà kết luận phong thủy một cách hồ đổ như thế được. Cái nước Mỹ của khoa học kỹ thuật tiến bộ nhất thế giới này cũng đang chạy theo Feng Shui (Phong thủy) của nền văn minh cổ Trung Hoa, có thua chi Việt Nam xưa và nay đâu, có điều họ chú trọng đến dương cơ hơn âm phần. Như vậy phải có một yếu tố gì khác làm cho độc chiêu do vua Quang Trung phát ra đã không có hiệu quả. Tôi chợt nhớ đến chữ Đức trong câu ca dao: Người trồng cây hạnh người chơi/ Ta trồng cây đức để đời về sau.

Trong 8 đời chúa Nguyễn, không thấy ông nào làm điều gì thất đức. Ông nào cũng lo làm cho dân giàu nước mạnh. Lịch sử cuộc nam tiến đi từ Phú Yên đến Cà Mau-Châu Đốc chứng minh điều đó. Hậu thế đã được thừa hưởng biết bao phúc lợi từ sự nghiệp nam tiến đó!

Có 3 ông chúa mang danh hiệu khác người: Chúa Sãi, chúa Hiền, chúa Ngãi. Nghe nôm na và thân tình biết mấy. Nếu cai trị mà không được dân thương mến và biết ơn thì làm chi có những cách gọi kém vương giả nhưng giàu tình cảm như thế?

Có đến 4 ông chúa, ngoài tên và vương hiệu, lại tự xưng là đạo nhân, như Thiên Túng đạo nhân (chúa Minh Nguyễn Phúc Chu), Vân Tuyền đạo nhân (chúa Ninh Nguyễn Phúc Thụ) hay Từ Tế đạo nhân (Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát), Khánh Phủ đạo nhân (Định Vương Nguyễn Phúc Thuần). Đó cũng là một nét đặc biệt.

Nhiều ông chúa xây chùa (chúa Tiên lập chùa Thiên Mụ, Long Hưng, Bảo Châu, Kính Thiên; chúa Hiền lập chùa Túy Vân) hay trùng tu chùa, đúc chuông, thỉnh sư giảng Pháp (chúa Minh).

Có lẽ nhờ biết tu nhân tích đức mà Đức năng thắng số, Số bất cập đức nên tai qua nạn khỏi, như câu tục ngữ mà ông bà xưa thường nói để dạy khôn cho con cháu: Trời hại mới lo, người hại như phấn nhồi. Đó là nói nôm na, cho có vẻ chính xác và minh triết hơn thì đấy chính là nhân quả nghiệp báo. Theo thiển ý, có lẽ hiểu theo cách này mới giải thích được chỗ bất cập của phong thuỷ.

————-

Chú thích:

(1) Mãi đến mùa hạ năm 1806 (Bính Dần) vua mới chính thức làm lễ lên ngôi Hoàng đế tại điện Thái Hoà.

(2) Có thể xem: La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine, hồi ký của Bissachère viết năm 1807 do Charles B. Maybon biên tập và xuất bản năm 1920, từ trang 118 đến trang 120 trong http://www.archive.org/stream/larelationsurlet00labi#page/n1/mode/2up

(3) Ngày 18 và 19/10/2008 tại Thanh Hóa có một cuộc hội thảo “Đánh giá lại chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn” được phóng viên ghi nhận là “một hội thảo lịch sử”, có lẽ vì phải chuẩn bị tài liệu đến 20 năm và tỉnh Thanh Hóa đã tài trợ gần một tỉ đồng VN để tổ chức, Có hai nhận xét quan trọng được ghi nhận:

“Theo GS Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, cần có nhận thức mới về nhà Nguyễn trong lịch sử dân tộc trên tinh thần “công minh lịch sử”.

“Tổng kết hội thảo, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khẳng định: Cuộc hội thảo lần này đã nhận được sự hưởng ứng rộng rãi không chỉ của giới khoa học mà còn của dư luận xã hội, chứng tỏ những nhận thức trước đây về vai trò của chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử dân tộc theo hướng phê phán và phủ định đã không còn thỏa đáng nữa” (http://www.thethaovanhoa.vn/133N20081020034945468T0/danh-gia-lai-chua-nguyen-va-vuong-trieu-nguyen-mot-hoi-thao-lich-su.htm

(4) Vua Gia Long có một thanh gươm mang tên Qui Y. Sử ghi rằng thanh gươm này có tính ưa giết người (hiếu sát), Tối hôm nào gươm tự động thoát ra khỏi vỏ thì hôm sau thế nào cũng có người phạm tội bị chém bằng thanh gươm đó. Vua Gia Long ghét tính hiếu sát của gươm bèn đem qui y cửa Phật và đặt tên là Qui Y (Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu).

(5) “Xuân Thu, Công Dương truyện: Trang công năm thứ 4 chép: Tề Tướng công giết nước Kỷ, vì ông tổ xa đời là Ai công mà phục thù, đời gọi là mối thù 9 đời” (Chú thích của dịch giả Thực lục I, tr.532).

Nguồn: Nhà nghiên cứu lịch sử Võ Hương An (Khamphahue.com.vn)

Việc hôm nay chớ để ngày mai

Tóm tắt, tổng kết các phương pháp quản lý bản thân/quản lý thời gian/… mà mình thấy phù hợp. Hiện tại chưa biết gọi là gì nên đặt tạm tên bài tổng kết là tên nguồn tham khảo đầu tiên mà mình sử dụng.

Nguồn: Sách “Việc hôm nay cứ chớ để ngày mai”

Mục đích cần đạt được khi luyện tập theo cuốn sách:

  • Cân bằng cuộc sống, phân bổ được thời gian hài hòa cho bản thân, gia đình, công việc, việc nhà, cộng đồng
  • Duy trì sự phấn chấn khi thực hiện các hoạt động, không cảm thấy sợ hãi, chán nản, căng thẳng, đau khổ khi thực hiện các hoạt động, không cần quá mức cố gắng (without trying too hard)

Các thói quen tinh thần, nhận thức cần luyện tập:

1. Cam kết cần có: luyện tập kiên trì, lần lượt từng chút từng chút một

2. Khi gặp khó khăn/thấy nản và nghĩ rằng mình không thể làm được -> nghĩ tích cực

  • Nghĩ tới những người bận bịu nhưng vẫn làm mọi thứ đâu ra đấy: mi, chị Trang, (ai nữa?)
  • Không chùn chân trước khó khăn, tin tưởng rằng mình có thể, chỉ cần cố gắng, luyện tập, là sẽ hoàn thành sớm thôi
  • Nghĩ tới những gì mình đã làm được
  • Hiểu rằng nếu không thể làm ngay được việc gì đó thì cũng không cần quá căng thẳng lo lắng
  • Tâm niệm: tìm đường đi (hiện tại, tương lai) thay vì tìm lối thoát. Không suy nghĩ trách móc bản thân vô ích (và có hại) kiểu “Giá như …”, mà hướng suy nghĩ sang “Từ giờ sẽ …” để việc đó không xảy ra nữa
  • Khi muốn buông xuôi, lông bông một chút: nghĩ tới mong muốn của mình về việc sống có tổ chức, dặn lòng: lông bông phải có tổ chức (ví dụ: có thể thức khuya xem phim nhưng phải hoàn thành bản báo cáo ngày mai), nghĩ tới cảm giác của mình ngày hôm sau nếu (a) chưa làm được gì và (b) đã hoàn thành việc
  • Tìm nguồn động lực, tận dụng kết hợp động lực tự thân và động lực từ bên ngoài (nói chuyện với người tích cực, người sẽ động viên mình, nghe nhạc tạo động lực tích cực); ghi lại và thường xuyên nhắc nhở bản thân: mục đích của việc này, tại sao mình muốn/cần làm

3. Hiểu bản thân: đâu là thứ mình thích? muốn? ưu tiên? cần? lựa chọn cái nào? hưởng thụ hay từ bỏ?

4. Giữ chữ tín:

  • hiểu rằng đến muộn, sai hẹn, thiếu tin cậy là không công bằng, thiếu tôn trọng đối với người khác, gây bất tiện cho họ và tạo cảm giác bực bội tiêu cực cho họ
  • đặt deadline giả cho bản thân
  • hiện tại đang có vấn đề về chữ tín ở việc đi muộn công ty, lớp tiếng Nhật, buổi tập yo

Các thói quen thao tác cần luyện tập:

1. Xác định khoảng thời gian làm việc hiệu quả trong ngày của bản thân

Trong vòng 3 tuần, quan sát và ghi chép lại hằng giờ: mức độ làm việc hiệu quả, khả năng tập trung, năng lượng tinh thần của bản thân, để tìm ra khung giờ làm việc hiệu quả của bản thân.

Tạm thời hiện tại đang cảm thấy là buổi sáng chứ chưa được chi tiết theo giờ (chưa ghi chép, theo dõi).

2. Tạo lập kế hoạch, luyện tập thói quen

  1. Thiết lập các hoạt động và thói quen một cách chi tiết, sát sao theo giờ, chia nhỏ các công việc lớn
  2. Chọn lọc các hoạt động, thói quen sẽ thực hiện theo thứ tự ưu tiên:
    • Việc khẩn cấp
    • Việc mình cần
    • Việc mình thích
    • Việc mình giỏi
    • Việc có thể hoàn thành ngay
  3. Lựa chọn phương án tiết kiệm thời gian, ví dụ:
    • Giao việc cho người khác
    • Lập nhóm phân công/luân phiên công việc để tiết kiệm thời gian cho mình và mọi người
    • Giao tiếp với người nói nhiều: email thay vì điện thoại
    • Thực hiện song song các hoạt động đối với những việc không cần tư duy nhiều (ví dụ: lau sàn // canh bếp, học // chờ xe, đi lại luôn có đồ trong tay…)
  4. Liệt kê các cỗ máy ngốn thời gian và xử lý:
    • Nếu có thể: tránh xa chúng, hoặc hạn chế tiếp xúc (khi bận, nên hoàn toàn tránh xa)
    • Nếu không thể tránh xa, hạn chế: xác định mục tiêu, tự nhủ “giờ nào việc nấy”, note lại để xử lý sau nếu cần
    • Một số cỗ máy ngốn thời gian:
      • cám dỗ tiêu cực: internet, SNS, ti vi
      • thứ tích cực hơn nhưng có thể thay thế bằng phương án tiết kiệm thời gian hơn: khi mình lau dọn nhà cửa rửa bát bị lâu, những người nói nhiều
  5. Nếu công việc được lên kế hoạch cho mỗi tuần một lần mà làm thấy ngợp thì chia nhỏ công việc ra mỗi ngày một chút
  6. Sử dụng khoảng thời gian làm việc hiệu quả của bản thân vào những việc quan trọng cần hoàn thành, cần tập trung, những việc gấp.
  7. Đặt ra deadline (thực tế, kiên quyết) cho các hoạt động

3. Xử lý hành động trì hoãn

  1. Nhận ra dấu hiệu của hành động trì hoãn
  2. Xác định nguyên nhân: Tại sao không muốn làm/nghĩ tới? Vì khó/chán?
  3. Giải quyết hành động trì hoãn:
    • Sau khi đã xác định được nguyên nhân, thường thì sẽ ra cách
    • Nếu không ra cách, cần tạo sức ép: tự ép bản thân, hoặc nhờ người khác hỗ trợ (chia việc/nhờ họ ép/…)
    • Đặt ra deadline
    • Nghĩ tới cảm giác của bản thân trong 2 trường hợp:
      • Đã hoàn thành việc đó
      • Chưa làm được gì
  4. Giải quyết vấn đề chần chừ, chậm trễ quyết định:
    • Hiểu rằng quyết định không chính xác vẫn tốt hơn là chậm trễ quyết định, đưa ra quyết định còn quan trọng hơn so với nội dung quyết định đó
    • Sau khi đã xác định được nguyên nhân, thường thì sẽ ra cách
    • Nếu không ra cách, cần tạo sức ép: tự ép bản thân, hoặc nhờ người khác hỗ trợ (chia việc/nhờ họ ép/…)
    • Đặt ra deadline, tung đồng xu nếu không quyết định được, quyết định dứt khoát khi đó
      • Quyết định lớn: Chuẩn bị thông tin từ sớm – sớm bao lâu tùy thuộc vào độ lớn của quyết định, số lượng thông tin cần thiết
      • Quyết định nhỏ (ví dụ: cất đồ này ở đâu, …): Quyết định ngay lập tức, dứt khoát

4. Tạo danh sách sở hữu để nhận định về đồ đạc, nhất là khi có ý tưởng mua mới

  • tần suất sử dụng/mục đích sử dụng/ưu điểm/khuyết điểm để từ đó tối giản đồ đạc
  • có vị trí cố định cho từng đồ khi không sử dụng, có kế hoạch vệ sinh rõ ràng cho từng đồ -> tạo lập thói quen giữ đúng vị trí, vệ sinh đồ
  • cân nhắc thời gian cần đầu tư: mua, lắp đặt, sử dụng (có thực sự cần thiết?), vệ sinh -> quyết định có sử dụng hay không
  • cân nhắc ngay từ trước khi mua: nếu không sử dụng được nữa (hỏng hóc, cần bỏ) thì phải làm sao: đồ không dùng trong vòng 6 tháng thì nên đem cho (có cho được không?), …
  • danh sách đồ cần mua (sau khi đã cân nhắc kỹ lưỡng) -> đi ra ngoài/tiện đường là mua một thể luôn để tiết kiệm thời gian

5. “Học cách yêu thương người khác tôi”

  1. Nhận thức: không kỳ vọng người khác thay đổi
  2. Định hình người khác trước khi làm gì đó (đã note)
  3. Điều chỉnh bản thân // Kiên định lập trường (hai cái này không đối lập mà bổ sung, bổ trợ cho nhau)

6. Lên và lưu lại, cập nhật danh sách những đồ/việc làm cần thiết

  • Khi sang ông/về nhà
    • một chút
  • Khi đi làm
  • Khi đi tập yo
  • Khi đi du lịch
    • gần/xa
    • trong nước/ngoài nước

7. Sử dụng sổ luôn mang theo: note lại mọi thứ cần thiết, hằng ngày tổng hợp vào excel và các nguồn tổng hợp khác

  • Nếu có đồ gần hết thì note lại, cuối ngày tổng hợp vào danh sách đồ ở hữu, nhận định … (xem mục 4 phía trên)

8. Học cách dọn dẹp

  • Chuẩn bị đồ đựng rác, phân loại:
    • Đồ còn dùng được nhưng hiện không có nhu cầu dùng -> chụp ảnh, để riêng để sau đăng đem cho tặng
    • Rác dễ phân hủy -> sau sẽ cho xuống đất
    • Rác tái chế -> sau sẽ rửa sạch, phân loại rồi đem bán/cho các cô đồng nát
      • Bao bì nhựa, nhựa ABS, PP, PVC, HI, ống nhựa
      • Đồ có nguyên liệu đồng, sắt, chì, kẽm, inox, nhôm, thiếc, hợp kim (mũi khoan, dao phay, dao chặt, khuôn)
      • Thùy phuy
      • Giấy carton, giấy báo, giấy photo
      • Nilon
      • Túi nilon, đồ nhựa mà các cô đồng nát không nhận -> Rửa sạch, trữ lại để sau đựng/chờ đợt thu gom
      • Máy móc các loại, pin, bo mạch điện tử -> Việt Nam tái chế
    • Rác không tái chế -> sau sẽ cho thùng rác hoặc nếu có thể xử lý khác thì tốt
  • Dọn dẹp những thứ liên quan đến nhau rồi mới tới thứ khác – ghi chép chúng lại vào danh sách sở hữu, rác phân loại như trên kia ghi, đồ không biết làm gì thì để vào một chỗ
  • Lau đồ, tủ, giường, … và sàn nhà
  • Xử lý rác như trên kia ghi
  • Quyết định số phận cho những đồ không biết làm gì ban nãy

9. Học cách hướng dẫn cho trẻ về nghĩa vụ và trách nhiệm, hưỡng dẫn cho trẻ làm việc nhà

10. Chia sẻ công việc, giao việc:

  • Giao việc, chia sẻ công việc: đúng việc, đúng người, đúng cách
    • Hướng dẫn -> xác nhận họ hiểu đúng điều mình muốn
    • Khi thống nhất với người khác: luôn kết thúc bằng cách tóm tắt những việc sẽ tiến hành: ai làm gì ai làm gì, việc này cần đạt yêu cầu gì
    • Đặt ra deadline giả tùy thuộc vào mức độ trễ hẹn của người đó tuy nhiên không cho họ biết rằng deadline này là giả nhé (2 bên đồng ý về công việc và thời hạn được giao)
    • Kiên quyết, không làm hộ, nhưng phải sẵn sàng hỗ trợ họ
    • Để họ thoải mái, tự hào, tự do trong khuôn khổ
    • Chuẩn bị sẵn tinh thần: họ có thể fail và mình có thể phải chịu đựng vấn đề không vui vì cái fail của họ
    • Nếu họ làm tốt: cảm ơn, đánh giá cao
    • Hiểu rằng: lần thứ nhất với chia sẻ công việc sẽ mất thời gian, nhưng những lần sau sẽ nhanh hơn
  • Nhờ người khác hỗ trợ suy nghĩ:
    • Chốt lịch cho khoảng thời gian cùng suy nghĩ để người khác có thể chủ động follow
    • Không chờ đợi ý kiến mà cùng thảo luận tới khi ra vấn đề để tạo chất xúc tác, gợi mở cho suy nghĩ của nhau (hiếm khi nào mà ý tưởng sẽ tự nhiên bất chợt nảy ra)
  • Với những quyết định, kế hoạch liên quan tới nhiều người:
    • Tham khảo ý kiến, để họ tham gia vào quá trình lên kế hoạch, quyết định
    • Thông báo kế hoạch, quyết định với họ để tránh lịch mâu thuẫn dẫn tới fail/bị ảnh hưởng

11. Luyện đọc nhanh: Tìm app, tìm lớp, tìm phương pháp -> luyện tập

12. Chuẩn bị trước cho mọi thứ: Ghi lịch những ngày quan trọng cần chuẩn bị (lễ tết, cỗ bàn, sinh nhật, sự kiện, …), tạo thói quen nhìn vào ngày (hôm nay + 60) và bắt đầu lên kế hoạch việc cần làm – đồ cần có, thu thập thông tin, chuẩn bị

  • Tết: nhìn vào ngày (hôm nay + 60) để bắt đầu lên kế hoạch việc cần làm – đồ cần có, thu thập thông tin, chuẩn bị từ trước 2 tháng: tổng vệ sinh, mua quà, đồ, nấu nướng (vụ nấu thì chắc phải sát sát thôi) -> trước 1 tháng có thể sẽ chuẩn bị sẵn sàng rồi, không phải vội vàng, mua hàng lại rẻ
  • Sinh nhật: nhìn vào ngày (hôm nay + 60) để bắt đầu lên kế hoạch việc cần làm – đồ cần có, thu thập thông tin, chuẩn bị từ trước 2 tháng: họ đang quan tâm điều gì, có thể quà gì cho họ

13. Luyện các kỹ năng khác:

  • Kỹ năng giao tiếp, ứng xử
    • Luyện nói: không quá nhanh, không nói lắp, tập trung vào điều mình muốn nói thay vì suy nghĩ của người khác về mình, diễn đạt rõ ràng điều mình muốn, không dùng lời lẽ vòng vo không cần thiết
    • Góp ý: nhận biết người không nhạy cảm và đối với họ thì cần góp ý thẳng thừng
  • Kỹ năng điều chỉnh cảm xúc, trí thông minh cảm xúc
    • Đối mặt với nỗi buồn và sự tức giận (cảm xúc tiêu cực):
      • Giữ bình tĩnh. Ví dụ một vài phương pháp: đếm, im lặng
      • Đặt mình vào hoàn cảnh của người đối diện
    • Mô tả cảm xúc, không để cảm xúc lấn át
      1. “Tôi cảm thấy … khi anh …” thay vì “Anh làm tôi …”, tránh phóng đại, phán xét, phê phán
      2. Giải thích với họ về tình hình, vì sao có cảm xúc ấy, vấn đề là gì
      3. Lắng nghe câu chuyện từ phía họ
      4. Gợi ý phương pháp giải quyết vấn đề
      5. Thảo luận, thỏa thuận

14. Kiên định, giữ vững lập trường

  • Diễn đạt rõ ràng, hợp lý điều mình muốn
    • Biết cách nói không
      • Nói không nếu không muốn
      • Cung cấp lời giải thích
      • Đưa ra lựa chọn thay thế nếu nó tốt hơn và mình THỰC SỰ THOẢI MÁI với nó (lựa chọn đó có thể là mình làm/người khác làm)
  • Không để bị chi phối bởi cảm xúc (đưa cảm xúc về 0)
  • Kiên định với điều mình muốn
  • Giữ vững lập trường với tất cả mọi người, cả người lớn hay trẻ nhỏ (Cẩn thận suy xét khi trẻ đòi gì đó. Quan sát cảm xúc của trẻ thay vì bị cuốn theo. Giữ bình tĩnh. Giữ vững lập trường và giải thích cho trẻ)
  • Luyện tập: bắt đầu với bản thân > với những người không bao giờ gặp lại (nhân viên điện thoại, nhân viên bán hàng, …) > người khác

Nkđs10: Việc hôm nay chớ để ngày mai – tr9 ~ 18

Đọc ngày 03 – 04/04/2020

Đọc mục lục của quyển này thấy hơi lộn xộn và lắt nhắt. Các phần đều rất ngắn, như kiểu chỉ nêu tips nho nhỏ chứ không đi sâu, và nhiều phần nghe còn na ná nhau nữa, như phần “Hình thành thói quen” (tr25) với “Hình thành thói quen tốt” (tr64), phần “Để bọn trẻ làm việc” (tr83) – “Đừng tự giải quyết công việc” (tr85) – “Học cách chia sẻ công việc” (tr 143), … Cảm giác đọc cuốn này mình sẽ phải tự tổng kết sắp xếp lại khá nhiều chứ các tips đang để lộn xộn chồng chéo nhau thì phải.

Phần đọc hai hôm 03 – 04/04 là tips về tinh thần khi đối mặt với công việc chất chồng.

Design a site like this with WordPress.com
Get started